“Qua nghiên cứu dịch tễ học trẻ em bị bỏng điều trị tại Khoa Bỏng, Bệnh viện Saint Paul, Hà Nội trong 5 năm (2010-2014), chúng tôi rút ra một số kết luận sau: Bỏng trẻ em chiếm: (52,09%) tổng số bệnh nhân bỏng. Lứa tuổi hay gặp ở bỏng trẻ em 1-3 tuổi (54,5%). Trẻ em nam bị bỏng (55,7%) nhiều hơn trẻ em nữ (44,3%). Khi người trông trẻ không chú ý, trẻ em dễ bị bỏng (87,50%). Tai nạn bỏng thường gặp ở gia đình (90,20%). Tác nhân gây bỏng thường gặp ở trẻ em là bỏng nhiệt (97,71%). Tổn thương bỏng ở trẻ em hay gặp ở vị trí: Chi dưới (71,2%), bụng (51,2%), chi trên (41,3%), bàn tay (29,7%). Diện tích bỏng thường gặp ở trẻ em 5-20% không được sơ cứu hoặc xử trí cấp cứu ban đầu chưa đúng theo khuyến cáo chiếm tỷ lệ cao (68,5%)”. (Theo Tạp chí Y học và Thảm họa – Tạp chí số 2 năm 2015)

Bỏng trẻ em chiếm 52,09% tổng số bệnh nhân bỏng.

 

II. THEO DÕI VÀ CHĂM SÓC TOÀN THÂN CÁC CƠ QUAN:
1. Toàn thân

a, Thân nhiệt

Có thể đo nhiệt độ ở nách, hậu môn, dưới lưỡi.

  • Khi trẻ nhỏ sốt cần theo dõi mức độ, tính chất sốt để phát hiện nguyên nhân:

– Do nhiễm độc: sốt liên quan tới diễn biến tại chỗ, khi vết bỏng liền thường hết sốt.

– Do thay băng: rét run, thường do đau, mức độ sốt vừa, dễ hạ nhiệt, xuất hiện sau thay băng.

– Do nhiêm khuẩn huyết: sốt cao, khó hạ nhiệt, sốt liên tục hình cao nguyên hoặc sốt cao kèm theo rét run.

– Do phản ứng dịch: sốt cao kèm theo trạng thái dị ứng kết hợp sẽ hạ nhiệt nhanh.

  • Biện pháp xử trí:

– Để trẻ nhỏ nằm phòng thoáng mát, yên tĩnh, nghỉ ngơi.

– Cởi bỏ bớt quần áo, an ủi trẻ nhỏ và gia đình.

– Các biện pháp vật lý như: chườm mát tại nơi có mạch máu lớn dưới da.

– Dùng thuốc: thuốc hạ sốt kết hợp với thuốc có tác dụng an thần, gardenal, dùng thuốc hạ sốt cần chú ý tác dụng phụ như giảm BC, loét tiêu hóa vì phảI dùng nhiều lần.

– Có thể gặp thân nhiệt hạ do sốc nặng, do ngâm rửa nước lạnh: cần nhanh chóng ủ ấm cho trẻ nhỏ, làm ấm nhiệt độ phòng bằng lò sưởi, điều hòa.

 

b, Trạng thái da và niêm mạc

Trạng thái da và niêm mạc có thể gặp các biểu hiện sau:

  • Thiếu oxy nặng: môI tím tái, da niêm mạc nhợt nhạt, co giật,… gặp khi sốc bỏng, sốc nhiễm khuẩn huyết,… khi đó cần cho trẻ nhỏ thở oxy ngay lập tức, kết hợp điều trị nguyên nhân.
  • Xuất huyết dưới da: dễ chảy máu ở vị trí tiêm truyền.
  • Nốt Ecthyma: nốt xuất huyết mụn mủ, hay gặp trong nhiễm khuẩn huyết do trực khuẩn mủ xanh ở trẻ nhỏ bị bỏng nặng.
  • Da niêm mạc vàng, nước tiểu vàng; có thể viêm gan do nhiễm độc bỏng, tan máu, viêm gan Virus.

 

c, Co giật

Đây là một triệu chứng mà khi gặp phải cần cấp cứu, xử trí ngay (vì trẻ nhỏ có nguy cơ ngừng thở, tổn thương sâu sắc thần kinh trung ương do thiếu oxy).

  • Một số nguyên nhân thường gặp ở trẻ nhỏ bị bỏng:

– Sốt cao: có trường hợp trẻ sốt 38 độ đã xuất hiện co giật.

– Bệnh lý tổn thương não: thường do rối loạn điện giải (bù chưa đủ nước, điện giải hoặc bù quá nhiều).

– Hạ đường huyết: do trẻ nhỏ khi bị bỏng thường bỏ ăn, bỏ bú (xử trí cho trẻ nhỏ uống sữa, uống nước đường, tiêm Glucose thì hết triệu chứng).

– Uốn ván: có thể gặp khi vết bỏng bị nhiễm bẩn; cần lưu ý các triệu chứng sớm như: cứng hàm, khó nói, khó nuốt, co giật có chu kỳ nhiều lần trong ngày.Động kinh: Cần xem tiền sử, trẻ không sốt.

  • Theo dõi: số cơn co giật, tính chất co giật: từng phần hoặc toàn bộ, thời gian co giật.
  • Biện pháp xử trí:

– Để trẻ nhỏ nơi thoáng, yên tĩnh, tránh thăm khám nhiều, tránh không cho trẻ nhỏ cắn vào lưỡi, hoặc gây sai khớp, gãy xương trong cơn co giật.
– Cho thở oxy.

– Dùng thuốc an tần, gardenal.

– Điều trị nguyên nhân.

 

d, Cân nặng:

Cân nặng là căn cứ quan trọng, đặc biệt với trẻ em để tính tổng lượng dịch truyền, phát hiện tình trạng phù nề.

 

e, Trạng thái vã mồ hôi, chân tay lạnh
trạng thái này gặp trong sốc, trong nhiễm độc… biểu hiện rối loạn thần kinh thực vật, tiên lượng nặng. Tuy nhiên cũng có thể gặp giai đoạn sốt lui, nhất là sau khi dùng thuốc hạ sốt.

  • Biện pháp xử trí: cần lau khô, lau sạch, giữ ấm đề phòng cảm lạnh, viêm phổi.

 

2. Tâm thần kinh:

  • Li bì, ức chế hoặc cuồng sảng, vật vã, kích thích (các biểu hiện này gặp trong giai đoạn sốc hoặc giai đoạn sau do nhiễm khuẩn hoặc nhiễm độc).
  • Rối loạn tính tình: trẻ nhỏ cáu gắt, quấy khóc, sợ hãi, ngại tiếp xúc,…

 

3. Tuần hoàn:

  • Mạch: thường gặp mạch nhanh kéo dài, nếu mạch quá nhanh, không đếm được thì cần dự phòng sốc và suy tim.
  • Trương lực mạch: căng nẩy khi sốc cương, mạch yếu, mờ, xẹp khi khối lượng máu lưu thông giảm nặng, tiên lượng nặng.
  • Huyết áp (HA): HA cao nhẹ, nhất thời gặp trong sốc cương, kích thích, đau đớn (sau các thăm khám, can thiệp), có thể HA nặng ở trẻ nhỏ trong giai đoạn sốc, cần có biện pháp xử trí sớm. HA thấp gặp trong sốc nhược, sốc nhiễm khuẩn, HA có thể ở mức bình thường thấp kéo dài khi bỏng nặng.
  • Cần đặt Catheter tĩnh mạch trung ương để đo áp lực thành mạch trung ương.

 

4. Hố hấp

  • Tần số hô hấp: trẻ nhỏ tần số hô hấp nhanh hơn người lớn, cần phát hiện tình trạng suy hô hấp với các biểu hiện:

– Rút lõm các hố thượng đòn và các khoang gian sườn.

– Thở nhanh nông, đặc biệt tần số > 50ck/p.

– Thở chậm nông, rối loạn hô hấp có chu kỳ, thở ngáp cá thường biểu hiện giai đoạn cuối, trẻ nhỏ bỏng nặng, đặc biệt nhiễm khuẩn huyết, có thể đột nhiên ngừng thở, ngừng tim dẫn tới tử vong.

  • Một số trạng thái cần chú ý ở trẻ nhỏ: bị sặc do ăn uống là cấp cứu tối khẩn cấp, ngay lập tức hút miệng, mũi nhi càng sớm càng tốt, tránh thức ăn vào sâu khí quản.
  • Cấp cứu sặc dị vật ở trẻ nhỏ, cấp cứu sặc dị vật sơ sinh.
  • Bảo đảm lưu thông đường thở: hút đờm giải theo chỉ định.

 

Phòng tránh tai nạn bỏng cho trẻ nhỏ

Do đặc điểm về mặt giải phẫu và sinh lý của trẻ nhỏ, các cơ quan vẫn đang trong giai đoạn tiếp tục hoàn thiện, nên khi bị tổn thương, đặc biệt là tổn thương do bỏng thì diễn biến sẽ rất phức tạp, rất dễ gặp các biến chứng nặng đồng thời sẽ để lại di chứng vô cùng nặng nề, gây tử vong cao ngay cả những trường hợp chỉ bị bỏng nhẹ. Vì vậy, việc quan tâm đúng mức đến trẻ nhỏ giúp trẻ nhỏ tránh bị bỏng là điều quan trọng hàng đầu và đây đồng thời cũng là tránh nhiệm của các bậc cha mẹ đối với trẻ nhỏ.

Ngoài nhữngác biện pháp phòng tránh tai nạn bỏng trẻ nhỏ, các bậc cha mẹ có thể tìm mua sản phẩm đặc trị vết thương bỏng an toàn đối với trẻ nhỏ. Thấu hiểu nỗi lòng cha mẹ, InMed hân hạnh giới thiệu đến các bậc cha mẹ, sản phẩm bột sinh học hỗ trợ điều trị vết thương (bỏng) – DermFactor – an toàn ngay cả với trẻ nhỏ.

DermFactor – hỗ trợ điều trị vết thương bỏng – an toàn ngay cả với trẻ nhỏ.

 

InMed

Partner of Your Wellness

Xem thêm: Tai nạn bỏng trẻ nhỏ