Loét tì tỳ đè là một loại vết thương mãn tính, thường gặp chủ yếu ở người bị bệnh tai biến, sau các cuộc phẫu thuật lớn phải nằm một chỗ và người già. Bệnh không những gây khó khăn cản trở trong cuộc sống của bệnh nhân mà còn gây phiền hà cho người thân chăm sóc.

KHÁI NIỆM VẾT THƯƠNG MÃN TÍNH 

Vết thương mãn tính là những vết thương rất khó liền thậm chí vết thương không lành được, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống hằng ngày của bệnh nhân. Việc điều trị và chăm sóc vết thương mãn tính cũng đòi hỏi yêu cầu khó khăn hơn các vết thương bình thường khác. 

Vì vậy đội ngũ y bác sĩ cũng như điều dưỡng cần có kiến thức tổng quát về vết thương mãn tính để có một phác đồ điều trị hiệu quả cho bệnh nhân. Vết thương mãn tính có rất nhiều loại, loại thường hay gặp nhất ở người già là loét tỳ đè.

 

KHÁI NIỆM LOÉT TỲ ĐÈ

Theo tạp chí The American Professional Wound Care Association® (APWCA) hiệp hội chăm sóc vết thương Mỹ Loét tỳ đè là do mạch máu bị đè ép quá lâu trên một vùng của cơ thể, thường xuất hiện ở những vùng có xương bị nhô lên hoặc do khi dùng giường hoặc ghế. Loét tỳ đè hình thành là do hoại tử thiếu máu cục bộ (thiếu nguồn cung cấp máu) của da và mô dưới da. Một số yếu tố khác làm hình thành loét tì đè có thể là các yếu tố bên ngoài (không liên quan đến bệnh nhân) hoặc bên trong (phụ thuộc vào tình trạng của bệnh nhân).

 NGUYÊN NHÂN GÂY RA LOÉT TỲ ĐÈ

Loét tỳ đè xảy ra khi quá nhiều áp lực đè lên da quá lâu làm giảm lưu lượng máu đến khu vực đó. Do không cung cấp đủ máu, da có thể chết(hoại tử) và gây ra đau đớn.

TRIỆU CHỨNG

Loét tỳ đè được phân chia theo mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng.

  • Giai đoạn I là giai đoạn nhẹ nhất còn giai đoạn IV là giai đoạn vết loét nặng nhất.
  • Giai đoạn I: Một vùng đỏ, đau trên da không chuyển sang màu trắng khi ấn. Đây là một dấu hiệu cho thấy loét tỳ đè đang hình thành. Da trong trường hợp này có thể ấm hoặc mát, săn chắc hoặc mềm mại.
  • Giai đoạn II: Bắt đầu xuất hiện các mụn nước trên da hoặc hình thành vết loét mở. Khu vực xung quanh vết đau có thể bị đỏ và bị kích thích.
  • Giai đoạn III: Da bây giờ phát triển một lỗ trũng mở, được gọi là miệng hố. Các mô bên dưới da bị hư hại. Lúc này bằng mắt thường chúng ta có thể thấy mỡ trong cơ thể.
  • Giai đoạn IV: Loét tỳ đè đã trở nên sâu đến mức có tổn thương cơ và xương, và đôi khi ảnh hưởng đến gân và khớp. Giai đoạn này cực kỳ nguy hiểm

Các giai đoạn loét tỳ đè (nguồn tài liệu phác đồ điều trị cục khám chữa bệnh) 

KỸ THUẬT CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG TỲ ĐÈ

Mục đích của việc chăm sóc vết thương là tạo các điều kiện thuận lợi để vết thương lành tự nhiên. Tuy nhiên hiện nay thông qua các nghiên cứu và thực nghiệm giúp con người hiểu rõ hơn về sinh lý lành vết thương. Từ đó chúng ta có nhiều cách làm cho vết thương lành nhanh hơn và ít di chứng, như: Tạo môi trường ẩm trong vết thương Kiểm soát tình trạng nhiễm trùng vết thương bằng các thuốc kháng khuẩn hay kiềm khuẩn tại chỗ. 

  • Sử dụng chất tăng trưởng biểu bì EGF (Epithilial Growth Factor), (Ví dụ: DermFactor vật liệu sinh học )
  • Hút liên tục trên vết thương bằng hệ thống hút chân không (VAC) 

Chỉ định: Là kỹ thuật cơ bản chăm sóc vết thương Các tổn thương mất da nông nhỏ, vừa có thể còn lộ gân xương ít Là chuẩn bị ban đầu cho các trường hợp xoay vạt da hay ghép da

Các vết loét ở giai đoạn I hoặc II sẽ lành nếu được chăm sóc cẩn thận. Các vết loét ở giai đoạn III và IV khó điều trị hơn và có thể mất nhiều thời gian để chữa lành.

Giảm áp lực cho khu vực chứa vết thương. 

Sử dụng gối đặc biệt, đệm bọt,…. để giảm áp lực. Loại đệm được chứa đầy nước hoặc không khí có thể giúp hỗ trợ và giảm áp lực khu vực vết thương rất tốt. 

  • Loại đệm sử dụng phụ thuộc vào vết thương của bệnh nhân và họ đang ở trên giường hay trên xe lăn. Khuyên bệnh nhân tham khảo ý kiến bác sĩ, điều dưỡng về kích thước hay hình dáng trước khi chọn mua nệm. 
  • Thay đổi vị trí thường xuyên. Nếu bệnh nhân đang ngồi xe lăn, hãy cố gắng thay đổi vị trí của sau mỗi 15 phút. Nếu bệnh nhân ở trên giường, nên di chuyển cơ thể họ khoảng 2 giờ một lần.
  • Giữ vết thương sạch sẽ để tránh việc có thể gây nhiễm trùng. Làm sạch vết thương mỗi khi phải thay băng.

 Đối với các vết thương ở giai đoạn I, chúng ta có thể làm sạch khu vực vết thương nhẹ nhàng bằng xà phòng nhẹ và nước. Nếu cần, sử dụng dưỡng ẩm để bảo vệ khu vực vết thương khỏi chất dịch cơ thể. 

 Các vết loét tỳ đè giai đoạn II nên được làm sạch bằng nước muối để loại bỏ các mô chết, lỏng lẻo. 

  • KHÔNG sử dụng chất tẩy rửa hydro peroxide hoặc I-ốt để rửa hoặc làm sạch vết thương vì chúng có thể làm tổn thương da nặng hơn.

Giữ cho vết loét tỳ đè được bao phủ bằng một loại băng y tế đặc biệt. Điều này giúp bảo vệ chống nhiễm trùng và giúp giữ ẩm cho vết thương để nó có thể chữa lành.

Tùy thuộc vào kích thước và giai đoạn của vết loét, chúng ta có thể sử dụng gel Ganikderma hoặc bột rắc vết thương Dermfactor

 

 

 

Trước  và sau khi sử dụng DermFactor 2 ngày vết thương đầy rõ rệt 

 

 

 

 

Hầu hết các vết loét giai đoạn III và IV phải được điều trị bởi đội ngũ y bác sĩ và điều dưỡng. 

Căn dặn thật kỹ bệnh nhân những điều lưu ý khi chăm sóc tại nhà, tránh chấn thương hoặc ma sát thêm.

Vải trải giường cần được đảm bảo khô, sạch, không chùn và không gập. Nếu dùng đệm nước, đệm khí cần trải vải sạch, không gấp nếp để tránh việc da bệnh nhân có thể bị dính vào đệm gây đau đớn. 

Có thể rắc phấn nhẹ lên tấm trải giường để giảm lực ma sát giúp da không chà xát lên trực tiếp lên ga giường.

Tránh trượt hoặc trượt khi phải di chuyển vị trí. Cố gắng tránh các vị trí gây áp lực lên vết đau của bệnh nhân.

 

CÁC YẾU TỐ CẦN QUAN TÂM KHI CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ LOÉT TỲ ĐÈ KHI MẤT DA, MÔ MỀM:

Căn cứ vào các yếu tố liên quan đến mức độ tổn thương, tình trạng của vết thương để có thể quyết định được phương pháp điều trị hiệu quả, phù hợp nhất cho bệnh nhân. 

  1. Dựa vào mức độ mất da: nếu bệnh nhân chỉ bị mất da nông thì hoàn toàn có thể ghép da đơn thuần. Nhưng nếu tình trạng của bệnh nhân nghiêm trọng hơn bị mất da sâu thì bác sĩ cần vạt da bay da ghép toàn phần. 
  2. Thứ hai dựa vào tình trạng lộ gân xương: Nếu vết thương đã có dấu hiệu bị lộ gân xương ra ngoài, chúng ta cần nhanh chóng che phủ sớm bằng vạt da. 
  3. Nếu vết thương là ở gần vùng khớp cử động thì chúng ta nên chọn vạt da hay da ghép dày tránh co rút, vì đây là vị trí rất dễ bị tổn thương. 
  4. Nếu vị trí vết thương nằm ở vùng chịu lực hay va chạm thường xuyên: nên sử dụng vạt da
  5. Cần tái tạo da có cảm giác: vạt da có khâu nối thần kinh

 

 

 

MỘT SỐ LƯU Ý KHÁC KHI CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG DO TỲ ĐÈ

  • Chăm sóc cho vết loét tỳ đè bằng cách giữ cho nó luôn sạch sẽ và giữ ẩm cho vết thương và các khu vực xung quanh.
  • Kiểm tra vết loét tỳ đè mỗi ngày.
  • Ăn đồ ăn có lợi cho sức khỏe. Có được chế độ dinh dưỡng phù hợp sẽ giúp bệnh nhân mau lành vết thương.
  • Khuyên bệnh nhân nên giảm cân.
  • Ngủ nhiều.
  • Thực hiện các bài tập nhẹ nhàng nếu tình trạng bệnh nhân cho phép. Điều này có thể giúp cải thiện lưu thông máu huyết rất tốt cho việc liền vết thương.

VẬY KHI NÀO NGƯỜI BỆNH NHÂN VÀ NGƯỜI NHÀ CẦN LIÊN HỆ VỚI BÁC SĨ GẤP

Liên lạc và gọi cho bác sĩ hoặc bệnh viện nếu bệnh nhân có hiện tượng phát triển mụn nước hoặc đau mở. Đặc biệt gọi ngay nếu có dấu hiệu NHIỄM TRÙNG vết loét, như:

  • Vết thương có mùi hôi
  • Mủ chảy ra từ vết loét
  • Đỏ và đau xung quanh
  • Da gần với vết loét nóng và / hoặc sưng
  • Sốt cao

 

Source: Tài liệu phác đồ điều trị loét tỳ đè, Cục khám chữa bệnh, Bộ Y Tế 

InMed 

Partner of your wellness 

Tư vấn dược sĩ/ bác sĩ zalo: 0969932499